CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH
thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị
về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
-----
Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (gọi tắt là Nghị quyết số 71-NQ/TW), Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Chương trình hành động thực hiện như sau:
I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Trong những năm qua, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tỉnh An Giang đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Các cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp trong tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đã ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch và triển khai đồng bộ trong đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ quản lý và nhà giáo về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Hệ thống giáo dục và đào tạo trong tỉnh tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học([1]). Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt, từng bước hiện đại hóa; chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng([2]), cơ cấu ngày càng hợp lý; công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến... Duy trì vững chắc và toàn diện các chỉ số đánh giá về giáo dục đại trà, giữ vững phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, nâng mức đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học lên mức độ 3, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông và trung học cơ sở ở mức ổn định([3]), đạt thành tích ngày càng cao tại các kỳ thi học sinh giỏi và cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trường lớp mặc dù được quan tâm đầu tư nhưng thiếu đồng bộ, nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để; chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ đáng kể nhưng chưa đồng đều giữa các địa phương. Giáo dục và đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động. Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan vẫn là do một số cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là người đứng đầu chưa coi trọng đúng mức, thiếu quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo; nguồn lực bố trí cho phát triển giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu; huy động các nguồn xã hội hóa chưa tương xứng, hiệu quả.
II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm chỉ đạo
- Quán triệt đầy đủ các nội dung Nghị quyết số 71-NQ/TW để thống nhất tư tưởng, nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán của cán bộ, đảng viên, cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong tỉnh. Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục; bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo, tham gia đóng góp nguồn lực và giám sát phát triển giáo dục.
- Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, khơi dậy mạnh mẽ các phong trào thi đua trong Nhân dân và trong toàn xã hội về học tập, tự học tập, học tập không ngừng, học tập suốt đời. Giáo dục, đào tạo phải bảo đảm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”. Giáo dục mầm non, phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực người học. Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Giáo dục công lập là trụ cột, ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành giáo dục quốc dân; xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy học tập suốt đời.
- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục, đào tạo. Người học là trung tâm, là chủ thể của quá trình giáo dục và đào tạo; nhà trường là nền tảng, nhà giáo là động lực, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Kiên quyết chấn chỉnh tiêu cực trong giáo dục, coi trọng danh dự người thầy, tôn vinh người thầy trong xã hội. Giáo dục bảo đảm hài hòa giữa tính toàn dân và tinh hoa, toàn diện và chuyên sâu, dân tộc và toàn cầu.
- Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế. Tạo đột phá về nguồn lực, động lực và không gian mới cho phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng; bảo đảm Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hoá toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Xây dựng, phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh An Giang hiện đại, công bằng, chất lượng, thực sự trở thành động lực then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài; đổi mới căn bản, toàn diện theo định hướng của Nghị quyết số 71-NQ/TW, gắn với Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2.2. Mục tiêu cụ thể
a) Đến năm 2030
- Giáo dục mầm non:
+ Đầu tư xây dựng mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thuộc mọi đối tượng và các khu vực trong tỉnh. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi.
+ Phấn đấu 100% cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập có trang thông tin điện tử kết nối với Cổng thông tin điện tử ngành giáo dục và đào tạo; 100% cơ sở giáo dục mầm non sử dụng có hiệu quả các chương trình phần mềm hỗ trợ cho công tác quản lý và nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ; thực hiện đồng bộ, khách quan, chính xác, kịp thời và có hiệu quả.
+ 100% cơ sở giáo dục mầm non triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo; nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, đảm bảo cho trẻ em có được năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi.
+ Hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyển đổi số, định hướng khai thác, sử dụng; triển khai quản lý trên môi trường số hóa, kết nối thông suốt toàn ngành và liên thông với các cơ sở dữ liệu, thông tin tỉnh, quốc gia.
- Giáo dục phổ thông:
+ Củng cố vững chắc, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, hoàn thành thực hiện giáo dục bắt buộc đối với trung học cơ sở.
+ Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông hướng đến phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực từng cá nhân học sinh, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Đẩy mạnh phương thức giáo dục tích hợp khoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học và nghệ thuật (STEM/STEAM). Đạt kết quả bước đầu về nâng cao năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và năng lực tiếng Anh ở bậc phổ thông.
+ Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành 100% trường phổ thông liên cấp nội trú ở 14 xã, phường biên giới đất liền([4]) và ở những quần đảo có nhu cầu; 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; xây dựng mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
+ 100% giáo viên phổ thông đạt chuẩn trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục; trong đó, 30% giáo viên trung học phổ thông có trình độ sau đại học.
+ Đảm bảo ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông hoặc tương đương.
- Giáo dục thường xuyên:
+ 100% xã, phường, đặc khu đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.
+ Phấn đấu có 40% xã, phường, đặc khu được công nhận danh hiệu xã, phường, đặc khu học tập; tỉnh được công nhận danh hiệu “Tỉnh học tập”.
+ Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%.
- Giáo dục nghề nghiệp:
+ Sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tinh gọn, hiệu quả, gắn với nhu cầu nhân lực chất lượng cao của tỉnh.
+ Phấn đấu 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trường cao đẳng đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn quốc gia theo quy định; 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở Châu Á. Phấn đấu có 01 trường cao đẳng đạt tiêu chí trường cao đẳng chất lượng cao; đào tạo trên 22 ngành, nghề trọng điểm, trong đó, có từ 02 đến 03 ngành, nghề có năng lực cạnh tranh trong khu vực ASEAN.
+ Tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%. Tỷ lệ người lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên chiếm 24%.
- Giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập:
+ Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của vùng. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng và địa phương, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%, trong đó có ít nhất 50 nghiên cứu sinh, 100 người học các chương trình tài năng.
+ Thành lập Phân hiệu của Trường Đại học Y dược Cần Thơ tại tỉnh An Giang([5]). Sau 05 năm phát triển, phân hiệu sẽ tuyển sinh và đào tạo đầy đủ các ngành tương ứng với cơ sở chính.
+ Khẳng định vai trò nòng cốt của các trường đại học trong tỉnh đối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương, đóng góp trực tiếp cho mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực, chủ lực trong đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực thế mạnh của tỉnh. Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 01 trường đại học đạt chuẩn kiểm định khu vực Đông Nam Á đối với một số chương trình đào tạo, góp phần nâng cao vị thế giáo dục đại học của tỉnh.
b) Đến năm 2035
Hệ thống giáo dục và đào tạo tiếp tục được hiện đại hóa, có bước tiến mạnh, vững chắc về tiếp cận, công bằng và chất lượng. Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương trên phạm vi toàn tỉnh. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số HDI đạt trên 0,85. Chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số GII đạt mức bình quân chung của cả nước. Các trường đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
c) Đến năm 2045
- Tỉnh An Giang có hệ thống giáo dục và đào tạo hiện đại, công bằng, chất lượng, vượt mặt bằng chung của cả nước. Bảo đảm mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân, xây dựng xã hội học tập toàn diện, bền vững.
- Phấn đấu ít nhất 01 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm các trường đại học hàng đầu của cả nước.
- Hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ nhân tài trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi, góp phần đưa An Giang trở thành tỉnh phát triển hiện đại, có thu nhập cao.
III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
- Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị và toàn xã hội cần nhận thức đầy đủ, quán triệt sâu sắc, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục và đào tạo. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là vai trò người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp. Xác định phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm trong định hướng quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh của tỉnh; lồng ghép, đưa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo vào các chương trình, kế hoạch phát triển trên các lĩnh vực và ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt, học tập, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân bằng hình thức, nội dung phong phú, phù hợp, coi phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp củatổ chức đảng, nhất là vai trò người đứng đầu cấp ủy trong các cơ sở giáo dục. Đổi mới tư duy quản trị và phương thức hành động, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên chuẩn mực, minh chứng, kết quả đầu ra và văn hóa chất lượng. Tập trung xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy cải tiến liên tục về chất lượng. Không tổ chức hội đồng trường trong các cơ sở giáo dục công lập (trừ các trường công lập có thỏa thuận quốc tế); thực hiện bí thư cấp ủy kiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục.
2. Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo
- Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực thi pháp luật, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiến tạo phát triển giáo dục và đào tạo.
- Tăng cường vai trò, trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường tự chủ, theo hướng thực chất, có chiều sâu, gắn quyền hạn với trách nhiệm.
- Vận dụng, có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo theo quy định của Trung ương và phù hợp với điều kiện của địa phương. Nghiên cứu, xây dựng chính sách phù hợp để huy động được người giỏi ngoài lực lượng nhà giáo tham gia giảng dạy, huấn luyện trong các cơ sở giáo dục; có cơ chế khuyến khích huy động người giỏi chủ trì các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục. Khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục tư thục không vì lợi nhuận; xây dựng cơ chế hợp tác “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” để hỗ trợ đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế trọng điểm.
- Kịp thời triển khai, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật của Trung ương về các chế độ, chính sách liên quan đến học sinh, sinh viên, đội ngũ công chức, viên chức ngành giáo dục và đào tạo, các quy định về chính sách cho học sinh các trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền, biển đảo; hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục phù hợp tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh; xây dựng và thực hiện hiệu quả các quỹ khuyến tài, khuyến học để khuyến khích học tập và phát triển sự nghiệp giáo dục.
3. Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới
- Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa học đường... trong nhà trường. Nghiên cứu, xây dựng và triển khai hiệu quả các mô hình giáo dục đạo đức, lối sống, các thiết chế, mô hình văn hóa học đường.
- Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục thể chất góp phần nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống. Quan tâm nâng lên chất lượng, hiệu quả môn học giáo dục quốc phòng và an ninh; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn thực hiện quy định về công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Triển khai các quy định của pháp luật để nâng cao dinh dưỡng học đường và phát triển giáo dục thể chất trong các cơ sở giáo dục. Có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực từ cơ chế thị trường, truyền thông, mạng xã hội đối với học sinh, sinh viên; ngăn chặn, đẩy lùi tiến tới chấm dứt bạo lực học đường, ma túy học đường.
4. Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; phấn đấu đến năm 2030 tỉnh An Giang thuộc tốp đầu cả nước về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
- Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong quản lý và đào tạo. Hoàn thiện dữ liệu, hệ thống thông tin; khai thác nền tảng giáo dục quốc gia thông minh ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát triển. Triển khai các ứng dụng và công cụ giáo dục số thông minh như sách giáo khoa thông minh, giáo trình thông minh, kho học liệu dùng chung, nền tảng học tập trực tuyến mở đại trà, phòng thí nghiệm và thực hành ảo, hệ thống kiểm tra, đánh giá trực tuyến hiện đại hướng tới lớp học thông minh, trường học thông minh; triển khai đồng bộ cơ sở dữ liệu học bạ số, văn bằng số cho giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; triển khai chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học.
- Thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động các doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học tham gia bồi dưỡng, đào tạo người học, giáo viên và cán bộ quản lý về năng lực số, trí tuệ nhân tạo. Bố trí đủ nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ số, trang thiết bị, đường truyền... nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chuyển đổi số, phổ cập và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học.
- Đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu phục vụ hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, bảo đảm 100% dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
5. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông
- Bố trí đủ biên chế, tuyển dụng đủ số lượng giáo viên, nhân viên trường học theo tiêu chuẩn quy định. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục, đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục.
- Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kiên cố hóa, hiện đại hóa trường, lớp học; bảo đảm đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt chuẩn, đặc biệt chú trọng đầu tư các phòng học thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất; ưu tiên bố trí trụ sở cơ quan dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; xây dựng nhà công vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên ở xa tới công tác.
- Thực hiện quy hoạch, đầu tư, phát triển hệ thống trường chuyên biệt, nhất là trường nội trú, bán trú và cơ sở giáo dục cho học sinh khuyết tật. Hoàn thành xây dựng mạng lưới trường phổ thông bán trú, nội trú liên cấp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới đất liền, hải đảo trước năm 2030.
- Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục toàn diện cho học sinh, chú trọng giáo dục tư tưởng, truyền thống, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp, kỹ năng mềm; tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật; nghiên cứu đưa kiến thức về năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giảng dạy. Rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018; chuẩn bị các điều kiện để tiến tới cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh theo lộ trình. Đổi mới mô hình trường chuyên, trường năng khiếu để tập trung ươm tạo nhân tài cho tỉnh, mở rộng các lớp chuyên khối STEM/STEAM. Tổ chức thực hiện hiệu quả việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.Tiếp tục đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, bảo đảm đánh giá trung thực kết quả học tập và giảng dạy; thực hiện đồng bộ các giải pháp để khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm không đúng quy định.
- Bảo đảm đầy đủ nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo tại địa phương; chăm lo giáo dục trẻ em ngay từ giai đoạn đầu đời, chuẩn bị đủ điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo. Triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non mới, tăng cường phương pháp giáo dục thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất, kỹ năng phát triển toàn diện cho trẻ em mầm non.
6. Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao
- Tập trung phát triển hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thực hiện sắp xếp, nâng cấp và chuẩn hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đảm bảo tinh gọn, hiệu quả. Xây dựng 01 trường cao đẳng tham gia Dự án 2 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Hợp nhất Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, Trung tâm giáo dục thường xuyên thành Trung học nghề tương đương cấp trung học phổ thông trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, để cung ứng dịch vụ công dành cho người đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở theo khu vực liên phường, xã, đặc khu; áp dụng bộ tiêu chí đánh giá công nhận năng lực nghề nghiệp đã tích lũy của người học.
- Tập trung đổi mới mạnh mẽ chương trình, phương thức đào tạo, ứng dụng công nghệ, quản trị chất lượng, bảo đảm hiệu quả, thực chất theo tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo nghề đặc thù, chất lượng cao phù hợp cho đồng bào dân tộc thiểu số; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế; phát triển giáo dục nghề nghiệp ở nông thôn. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ năng nghề cao trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, chủ lực của tỉnh như: Du lịch, dịch vụ, xây dựng, công nghệ thông tin, nông nghiệp công nghệ cao, logistics… nhằm xây dựng, phát triển lực lượng lao động lành nghề cho tỉnh.
- Tăng cường liên kết, hợp tác về giáo dục nghề nghiệp giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp để đặt hàng đào tạo; xây dựng các chương trình đào tạo nghề đặc thù cho đồng bào dân tộc thiểu số. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động hợp tác đào tạo với doanh nghiệp, tăng thời gian đào tạo, thực hành cho người học trong doanh nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia giáo dục nghề nghiệp từ khâu tuyển sinh, đào tạo đến sử dụng, thành lập các cơ sở thực hành tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
- Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm tích hợp với thông tin khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục, hệ thống thông tin giáo dục và nhân lực tỉnh, nhằm đánh giá, dự báo cung - cầu nhân lực, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
- Có chính sách thu hút chuyên gia, người lao động tay nghề cao tham gia giảng dạy; triển khai các đề án đào tạo nhân lực kỹ năng mới, đáp ứng yêu cầu kinh tế số, kinh tế xanh.
7. Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo
- Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển cho các cơ sở giáo dục đại học. Tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trung tâm đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, triển khai các chương trình, dự án khoa học, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế theo định hướng quy hoạch của tỉnh.
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển trung tâm công nghệ cao - đại học; thúc đẩy mạnh mẽ phát triển cơ sở giáo dục đại học theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới; có cơ chế hỗ trợ hiệu quả đối với giảng viên và người học triển khai các dự án khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, thành lập công ty khởi nguồn, công ty khởi nghiệp.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học. Đẩy mạnh triển khai mô hình hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp; kết nối doanh nghiệp và địa phương hướng đến phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực trọng điểm của tỉnh.
- Chú trọng, mở rộng các chương trình, đề án đào tạo, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ làm công tác quản lý giáo dục đại học; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy khoa học, hiện đại đáp ứng nhu cầu chuẩn quốc tế.
8. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo
- Nghiên cứu mở rộng, đa dạng hóa và làm sâu sắc các cơ chế hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Khuyến khích các cơ sở giáo dục trong tỉnh áp dụng linh hoạt các tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý và kiểm định chất lượng giáo dục, đảm bảo phù hợp với hoàn cảnh địa phương và định hướng phát triển của Việt Nam.
- Xây dựng mục tiêu đưa tỉnh An Giang trở thành trung tâm hợp tác giáo dục - nghiên cứu khoa học của khu vực Tây Nam bộ, trọng tâm trong lĩnh vực kinh tế biển, thương mại biên giới, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao... Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ cho khu vực biên giới và ven biển, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
- Nghiên cứu có chính sách cấp học bổng, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giảng viên của tỉnh tham gia học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng tại các nước phát triển, các nước có quan hệ truyền thống và thế mạnh trong các lĩnh vực trọng điểm như nông nghiệp công nghệ cao, thương mại biên giới, năng lượng tái tạo... Tận dụng hiệu quả các chương trình hợp tác song phương và đa phương để nâng cao năng lực đội ngũ và chất lượng giáo dục.
- Có cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học trong tỉnh hợp tác, liên kết với các trường đại học uy tín, doanh nghiệp lớn ở nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực trọng điểm, công nghệ mới nổi, mô hình giáo dục số, logistics xuyên biên giới... Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp tại An Giang. Thúc đẩy hợp tác, liên kết thành lập các đơn vị đào tạo, viện nghiên cứu chung giữa cơ sở giáo dục trong tỉnh với đối tác quốc tế, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thành lập Ban Chỉ đạo của tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức quán triệt, tuyên truyền; căn cứ chức năng, nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động này phù hợp; định kỳ (hằng tháng, quý, 06 tháng, năm) báo cáo kết quả thực hiện theo quy định
3. Đảng ủy Cơ quan Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách đột phá phù hợp với tình hình thực tế của địa phương về phát triển giáo dục và đào tạo; tăng cường giám sát thực hiện theo quy định.
4. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương triển khai thực hiện phù hợp gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm. Theo dõi, kịp thời phát hiện những bất cập, điều chỉnh kế hoạch, đề ra giải pháp thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn, đảm bảo thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động này; ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện; chỉ đạo, phát động phong trào thi đua, biểu dương, khen thưởng. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện, tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy hằng năm có hình thức cụ thể hóa trong các Nghị quyết, kế hoạch phù hợp, định kỳ sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm chỉ đạo.
5. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, định hướng quán triệt, tuyên truyền các nội dung của Nghị quyết số 71-NQ/TW và Chương trình hành động này đến các cấp ủy, cán bộ, đảng viên và Nhân dân; làm tốt công tác tư tưởng, dự báo tình hình, có giải pháp phù hợp, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để công tác thông tin, tuyên truyền đạt hiệu quả cao nhất; cổ vũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt cán bộ tuyên giáo và dân vận, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên từ tỉnh đến xã, phường, đặc khu tăng cường tuyên truyền, thông tin lan tỏa về những nội dung quan trọng của Nghị quyết số 71-NQ/TW, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân.
6. Đảng ủy Các cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc của Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ tích cực tuyên truyền, phổ biến và vận động, hướng dẫn các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động này; theo dõi giám sát, phản biện xã hội việc thực hiện.
7. Văn phòng Tỉnh ủy phối hợp với Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; định kỳ (tháng, quý, 06 tháng, năm) tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo kết quả với Bộ Chính trị theo quy định.
Chương trình hành động này được phổ biến đến chi bộ và tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
[1] Toàn tỉnh hiện có 1.333 đơn vị trường học từ mầm non đến trung học phổ thông phủ khắp trên địa bàn 102 xã, phường, đặc khu; 02 Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, 09 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, 05 trường cao đẳng và 02 trường đại học.
[2] Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên toàn tỉnh hơn 45.404 người; trong đó, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm 97,75%.
[3] Trên 99%; điểm trung bình kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông của An Giang thường xuyên nằm trong nhóm 10 tỉnh thành cao nhất cả nước, vượt trội so với mặt bằng chung của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
[4] Theo Thông báo kết luận số 81-KL/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới. Tỉnh An Giang có 14 xã, phường dự kiến đầu tư gồm: 09 xã là An Phú, Nhơn Hội, Khánh Bình, Phú Hữu, Vĩnh Xương, Ba Chúc, Vĩnh Gia, Giang Thành, Vĩnh Điều và 05 phường là Châu Đốc, Vĩnh Tế, Tịnh Biên, Thới Sơn, Hà Tiên.
[5] Trên cơ sở Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang.